Kết quả sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ⁄TU về phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN)


2016-06-10 - Sau hơn 8 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ⁄TU ngày 29⁄3⁄2008 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XI) trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng với sự cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, các thành phần kinh tế và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, bước đầu đã hình thành và phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có ưu thế, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết quả cụ thể:

        Giai đoạn 2008-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp đạt là 14,4%/năm; giai đoạn 2011-2015 là 34,8%/năm. Lao động trong ngành công nghiệp tăng lên theo từng năm như năm 2010 toàn tỉnh mới chỉ có 7.649 lao động thì đến năm 2015 toàn tỉnh có 8.812 lao động, bình quân mỗi năm tạo việc làm mới cho trên 700 lao động. Xuất khẩu hàng hóa từ các sản phẩm công nghiệp, chế biến khoáng sản, chế biến nông lâm sản giai đoạn 2011-2015 có tốc độ tăng trưởng bình quân xuất khẩu là 8,7%/năm.

          Đến nay, tỉnh đã quy hoạch 56 dự án thuỷ điện, với tổng công suất lắp máy là 2.845,8 MW, điện lượng bình quân 11,1 tỷ kWh/năm, trong đó có 03 dự án thủy điện quốc gia là thuỷ điện Huội Quảng, Bản Chát và Lai Châu với tổng công suất 1.940 MW; 08 dự án đã phát điện với công suất 966,45MW, sản lượng điện sản xuất năm 2015 đạt 1,06 tỷ kWh.

           Các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và có những đóng góp nhất định vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo việc làm cho lao động địa phương. Tuy nhiên, phần lớn các mỏ nằm phân tán, trữ lượng mỏ chưa được đánh giá chi tiết, điều kiện khai thác khó khăn nên các cơ sở khai thác chế biến khoáng sản kim loại trên địa bàn có quy mô nhỏ, công nghệ khai thác, chế biến lạc hậu, hầu hết sản phẩm khoáng sản mới qua sơ chế, chưa có cơ sở chế biến đến sản phẩm cuối cùng.

          Công nghiệp chế biến nông lâm sản phát triển nhanh, quy mô phù hợp gắn với vùng nguyên liệu; có nhiều cơ sở sản xuất mới được hình thành; việc cải tiến công nghệ, thiết bị được quan tâm đầu tư; sản phẩm đa dạng về chủng loại, mẫu mã, chất lượng đảm bảo. Trên địa bàn tỉnh có khoảng 08 doanh nghiệp, 03 hợp tác xã với tổng công suất chế biến 225 tấn/ngày và trên 100 hộ cá thể sản xuất chế biến chè, bao tiêu sản phẩm chè búp tươi cho vùng nguyên liệu trên 3.500 ha tại địa bàn huyện Tam Đường, Than Uyên, Tân Uyên và Thành phố Lai Châu. Sản lượng chè khô chế biến hàng năm đạt trên 4.100 tấn, đáp ứng được các yêu cầu của thị trường; các sản phẩm như chè Ôlong, chè Sencha, Matcha, Shan Tuyết xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Đài Loan và một số nước Trung Đông.

           Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống bước đầu được khôi phục, phát triển với nhiều loại hình cơ sở cùng đan xen tham gia. Hiện tại, UBND tỉnh đã công nhận 04 làng nghề và 01 nghề truyền thống, gồm: 01 làng nghề sản xuất các loại bánh dân tộc tại bản San Thàng 1, xã San Thàng, Thành phố Lai Châu; 03 làng nghề sản xuất miến dong tại bản Thống Nhất, Hoa Lư, Vân Bình, xã Bình Lư, huyện Tam Đường và nghề nấu rượu ngô truyền thống tại bản Sùng Chô, xã Nậm Loỏng, thành phố Lai Châu.

           Mặc dù đạt được kết quả tích cực, hoạt động sản xuất CN- TTCN của địa bàn tỉnh trong thời gian qua vẫn còn một số yếu kém cần sớm khắc phục như: Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh. Hạ tầng các khu, cụm công nghiệp chưa được đầu tư xây dựng, nên việc thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn. Các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp phần lớn là có quy mô nhỏ, sử dụng ít lao động; Phát triển nghề, làng nghề chưa thật vững chắc, chủ yếu phát triển theo chiều rộng để giải quyết lao động nông nhàn, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu; quy mô làng nghề và nghề truyền thống nhỏ; chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã đơn giản và chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội tỉnh.

          Để tạo động lực cho sản xuất CN-TTCN có bước phát triển mới, trong thời gian tới tỉnh: Rà soát quy hoạch phát triển công  nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; xây dựng kế hoạch, chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sát với tình hình thực tiễn, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng công nghiệp, tạo môi trường thuận lợi khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư vào phát triển công nghiệp đã quy hoạch và các lĩnh vực có lợi thế  như: Công nghiệp sản xuất chế biến nông, lâm nghiệp, các dự án thủy điện vừa và nhỏ, công nghiệp khai thác, sản xuất các loại vật liệu xây dựng với quy mô hợp lý, phục vụ nhu cầu xây dựng trên địa bàn, ưu tiên phát triển vật liệu xây dựng không nung... Tiếp tục khôi và phát triển một số ngành nghề thủ công, mặt hàng thủ công, mỹ nghệ có lợi thế về nguyên liệu: Dệt thổ cẩm, mây tre đan... Phát triển hợp lý một số cụm công nghiệp theo quy hoạch./.

Nguồn:Nguyễn Luyến - Trần Thu